Mozambique
|
Cộng hòa Mozambique
|
|
|---|---|
Tên bản ngữ
| |
| Tổng quan | |
| Thủ đô và thành phố lớn nhất | Maputo 25°57′N 32°35′Đ / 25,95°N 32,583°Đ |
| Ngôn ngữ chính thức | Tiếng Bồ Đào Nha |
| • Ngôn ngữ địa phương | Makhuwa, Sena, Tsonga, Lomwe, Swahili |
| Sắc tộc (2017)[1] |
|
| Tôn giáo (2020)[2] |
|
| Tên dân cư | Người Mozambique |
| Chính trị | |
| Chính phủ | Cộng hòa bán tổng thống chế đơn nhất[3][4][5] dưới một chính quyền chuyên chế |
| Daniel Chapo | |
| Maria Benvinda Levy | |
| Lập pháp | Quốc hội |
| Lịch sử | |
| Thành lập | |
• Độc lập từ Bồ Đào Nha | 25 tháng 6 năm 1975 |
| 1977–1992 | |
• Hiến pháp hiện hành | 21 tháng 12 năm 2004 |
| Địa lý | |
| Diện tích | |
• Tổng cộng | 801.590 km2 (hạng 35) 309.496 mi2 |
• Mặt nước (%) | 2,2 |
| Dân số | |
• Ước lượng 2024 | 34.881.007[6] (hạng 45) |
• Mật độ | 28,7/km2 74,3/mi2 |
| Kinh tế | |
| GDP (PPP) | Ước lượng 2023 |
• Tổng số | |
| GDP (danh nghĩa) | Ước lượng 2023 |
• Tổng số | |
• Bình quân đầu người | |
| Đơn vị tiền tệ | Metical Mozambique (MZN) |
| Thông tin khác | |
| Gini? (2019) | cao |
| HDI? (2023) | thấp · hạng 183 |
| Múi giờ | UTC+2 (CAT) |
| Mã điện thoại | +258 |
| Mã ISO 3166 | MZ |
| Tên miền Internet | .mz |
Mozambique,[d] quốc hiệu là Cộng hòa Mozambique,[e] là một quốc gia ở đông nam châu Phi, giáp với Ấn Độ Dương về phía đông, Tanzania về phía bắc, Malawi và Zambia về phía tây bắc, Zimbabwe về phía tây, Eswatini và Nam Phi về phía tây nam. Vasco da Gama đã đến đây năm 1498 và quốc gia này đã bị Bồ Đào Nha chiếm làm thuộc địa năm 1505. Đến năm 1510, người Bồ Đào Nha đã kiểm soát hết các vương quốc Hồi giáo Ả Rập ở bờ đông châu Phi.
Quốc gia này là một thành viên của Cộng đồng các quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha và Khối Thịnh vượng chung.
Tên gọi
Thực dân Bồ Đào Nha đặt tên đất nước là Moçambique theo Đảo Mozambique, bắt nguồn từ tên của Mussa Bin Bique, Musa Al Big, Mossa Al Bique, Mussa Ben Mbiki hay Mussa Ibn Malik, một thương nhân người Ả Rập đến sinh sống tại hòn đảo.[10] Bin Bique còn sống khi Vasco da Gama đến hòn đảo vào năm 1498.[11] Hòn đảo là thủ phủ của thuộc địa Bồ Đào Nha cho đến năm 1898, khi thủ phủ được chuyển về phía nam đến Lourenço Marques (nay là Maputo).
Lịch sử
Giữa thế kỷ 1 và thế kỷ 4 CN, làn sóng dân nói tiếng Bantu đã nhập cư từ phía tây và bắc qua thung lũng sông Zambezi và dần dần xâm nhập vào cao nguyên và các khu vực ven biển. Họ là những người nông dân và thợ sắt.

Các thương gia Indonesia và Ấn Độ thường xuyên đến các vùng duyên hải. Vào thế kỷ 12, người Ả Rập đến lập các thương điếm và khai thác cạn kiệt tài nguyên của vùng.
Năm 1498, Vasco da Gama lần đầu tiên đặt chân lên vùng đất này. Năm 1544, Lourenco Marques cho xây dựng thành phố mang tên ông ta (thành phố Maputo hiện nay). Trong thế kỷ 17 và 18, ảnh hưởng của Bồ Đào Nha được khẳng định trong vùng hạ thung lũng phía đông, nơi đây trở thành trung tâm mua bán nô lệ. Biên giới thuộc địa mới của người Bồ Đào Nha được ấn định qua các hiệp ước với Đức và Anh (1886- 1893).
Đầu thế kỷ 20, người Bồ Đào Nha đã chuyển quyền điều hành quản lý Mozambique cho các công ty tư nhân lớn như Mozambique Company, Zambezi Company và Niassa Company, các công ty thuộc quyền kiểm soát và cung cấp tài chính của nước Anh, quốc gia thiết lập các tuyến đường ray từ đây đi các nước láng giềng và cung cấp lao động người Phi (thường là bắt buộc và với giá rẻ mạt) cho các đồn điền và hầm mỏ ở các thuộc địa Anh quốc gần đó và ở Nam Phi. Do chính sách và kế hoạch phát triển chủ yếu là mang lại lợi ích cho người Bồ Đào Nha nên người ta ít quan tâm đến việc hội nhập và phát triển của các cộng đồng dân Mozambique bản địa. Do đó, những người bản xứ chịu cảnh phân biệt đối xử cũng như sức ép xã hội. Mozambique trở thành một tỉnh hải ngoại của Bồ Đào Nha năm 1951.
Năm 1962, Eduardo Mondlane và Mục sư Uria Simango thành lập Mặt trận Giải phóng Mozambique (FRELMO), đặt căn cứ tại thành phố Dar es-Salaam ở Tanzania. Năm 1964, Mặt trận Giải phóng Mozambique tiến hành các cuộc chiến tranh du kích chống lại ách thống trị Bồ Đào Nha. Nãm 1965, tổ chức này giành quyền kiểm soát 20% lãnh thổ nhưng những bất đồng nội bộ dẫn đến việc ám sát Mondlane năm 1969.
Mặt trận giải phóng Mozambique (FRELIMO) đã khởi xướng một chiến dịch chiến tranh du kích chống lại sự cai trị của Bồ Đào Nha vào tháng 9 năm 1964. Xung đột này, cùng với các xung đột khác ở các thuộc địa Bồ Đào Nha như Angola và Guinea-Bissau, đã trở thành cuộc Chiến tranh thuộc địa Bồ Đào Nha (1961-1974). Năm 1973, Bồ Đào Nha buộc phải đưa đến 40.000 quân để trấn áp quân nổi dậy. Năm 1975, Mozambique tuyên bố trở thành nước Cộng hòa độc lập.
Sau 10 năm chiến tranh và sau cuộc trở lại dân chủ của Bồ Đào Nha thông qua một cuộc đảo chính quân sự ở Lisboa (cách mạng cẩm chướng tháng 4 năm 1974), FRELIMO đã giành quyền kiểm soát lãnh thổ này. Trong vòng 1 năm, hầu như toàn bộ dân Bồ Đào Nha đã rời quốc gia này, một số vì sợ hãi, một số bị buộc phải ra đi. Mozambique độc lập khỏi Bồ Đào Nha ngày 25 tháng 6 năm 1975.
Nhưng sau đó, từ năm 1976 đến năm 1992, nước này lâm vào một cuộc nội chiến đẫm máu, cướp đi sinh mạng của gần 1 triệu người.
Tháng 10 năm 1994, cuộc tổng tuyển cử đa đảng đầu tiên ở Mozambique đã bầu trực tiếp Tổng thống và 250 đại biểu Quốc hội. Ông Joaquim Alberto Chissano, Chủ tịch Đảng Frelimo đắc cử Tổng thống, Đảng FRELIMO giành được 129 trong tổng số 250 ghế đại biểu Quốc hội. Ngày 9 tháng 12 năm 1994, Tổng thống J.A.Chissano tuyên thệ nhậm chức và thành lập Chính phủ đoàn kết, hòa hợp dân tộc.
Mặc dù chưa bao giờ chịu sự chi phối của nước Anh, nhưng năm 1995, Mozambique lại bày tỏ mong muốn tham gia vào Khối Thịnh vượng chung.
Tháng 7 năm 2003, Mozambique là Chủ tịch luân phiên Liên minh châu Phi.
Tháng 12 năm 2004, Mozambique đã phải trải qua một thời kỳ chuyển giao quyền lực khi Joaquim Chissano rút lui khỏi chính trường sau 18 năm lãnh đạo đất nước. Cuộc bầu cử Tổng thống đã diễn ra vào tháng 12 năm 2004 với tháng lợi thuộc về Armando Emilio Guebuza. Trong cuộc bầu cử vào tháng 11 năm 2009, ông Guebuza đã tái đắc cử Tổng thống với 76,3% số phiếu bầu.
Nội chiến Mozambique (1977–1992)
Chủ tịch đảng Mặt trận Giải phóng Mozambique, Samora Machel, trở thành Tổng thống. Machel tiến hành quốc hữu hóa các lãnh vực kinh tế, giáo dục và y tế.
Đất nước lại rơi vào nội chiến giữa Mặt trận Giải phóng Mozambique và phong trào Kháng chiến Dân tộc Mozambique thành lập năm 1981 và được Nam Phi hậu thuẫn.
Năm 1986, Tống thống Machel qua đời trong một tai nạn máy bay. Joaquim Chissano trở thành nhà lãnh đạo mới của đất nước. Hiến pháp năm 1990 thiết lập thể chế đa đảng. Năm 1992, Mặt trận Giải phóng Mozambique và tổ chức Kháng chiến Dân tộc Mozambique ký hiệp ước hòa bình dưới sự bảo hộ của Liên Hợp Quốc. J. Chissano trở thành Tổng thống sau cuộc tuyển cử tự do năm 1994 và tái đắc cử năm 1999.
Thời kỳ dân chủ (1993 – hiện tại)
Địa lý
Mozambique ở khu vực Nam Phi, phía bắc giáp Tanzania; phia tây giáp Malawi, Zambia, Zimbabwe, Nam Phi, Eswatini; phia đông giáp Ấn Độ Dương. Lãnh thổ quốc gia gồm vùng đồng bằng rộng lớn ven biển (45% diện tích lãnh thổ) trải dài trên 2.000 km từ Bắc đến Nam. Vùng núi (đỉnh Namuli, 2.419 m) và cao nguyên trải rộng ở phía tây Bắc rồi thoải dần về phía nam.
Khí hậu

Chính trị
Mozambique là một nước cộng hòa bán tổng thống chế theo hệ thống đa đảng. Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 5 năm. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ, do tổng thống bổ nhiệm. Tổng thống đương nhiệm là Daniel Chapo. Quốc hội là cơ quan lập pháp đơn viện, gồm 250 nghị sĩ được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 5 năm. Hiện tại, Đảng FRELIMO là đảng đa số trong Quốc hội.
Các đảng phái: Đảng cầm quyền hiện nay là Đảng FRELIMO. Ngoài ra, còn có các đảng RENAMO, Đảng Dân chủ Mozambique (PDM), Đảng Liên minh dân chủ Mozambique (CODEMO), Đại hội Độc lập Mozambique (COINMO).
Phân cấp hành chính
Mozambique được chia thành 10 tỉnh và 1 thành phố thủ đô cấp tỉnh. Các tỉnh lại được chia ra thành 129 huyện (distrito). Các huyện được chia thành 405 "Postos Administrativos" (điểm hành chính) và chia tiếp thành các localidade (thôn làng), cấp địa lý thấp nhất. Từ năm 1998, 33 "Municípios" (đô thị) đã được lập ở Mozambique.
Đối ngoại
Mozambique là thành viên tích cực của Liên minh châu Phi (AU), là một lực lượng nòng cốt trong Phong trào không liên kết, Cộng đồng các quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha, Khối Thịnh vượng chung là thành viên Cộng đồng Phát triển Nam Phi.
Với cương vị Chủ tịch Liên minh châu Phi (AU) năm 2003, Mozambique đã đóng góp tích cực vào việc giải quyết xung đột, tăng cường hợp tác đấu tranh bảo vệ lợi ích chính đáng của các nước châu Phi và các nước đang phát triển.
Trong chính sách đối ngoại, Mozambique ưu tiên phát triển quan hệ với các nước láng giềng, và với các nước đối tác truyền thống như Mỹ, Hàn Quốc.
Nhân quyền
Hoạt động tình dục đồng tính là hợp pháp từ năm 2015.[12] Tuy nhiên, tình trạng phân biệt đối xử đối với người LGBT vẫn phổ biến tại Mozambique.[13]
Kinh tế

Nông nghiệp chiếm khoảng 80% lực lượng lao động và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế: người bản xứ trồng các loại cây lương thực (lúa mì, lúa gạo, ngô, sắn, lạc); còn trên các vùng canh tác lớn, người châu Âu trồng các loại cây phục vụ ngành xuất khẩu (bông vải, điều, mía, cây có sợi, chè và cơm dừa khô). Ngành đánh bắt cá biển cũng giữ vai trò đáng kể: tôm là mặt hàng chiếm 1/3 tổng sản phẩm xuất khẩu quốc gia. Ngoài ra, hai mặt hàng xuất khẩu quan trọng khác là hạt điều và đường. Công nghiệp còn trong tình trạng phôi thai. Nguồn tài nguyên khoáng sản (mica, sắt, đá quý) và năng lượng (thủy điện, than đá, khí đốt) tương đối dồi dào, nhưng chưa được chú trọng khai thác.
Kinh tế Mozambique bị suy sụp do các cuộc chiến tranh du kích và nội chiến kéo dài suốt 30 năm, là một trong những nước nghèo nhất thế giới phải nhờ đến sự giúp đỡ của quốc tế.
Tuy nhiên, từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, Mozambique tiến hành một loạt cải cách kinh tế. Hầu hết mọi lĩnh vực của nền kinh tế đều được tự do hóa trong một chừng mực nào đó.
Hơn 900 doanh nghiệp nhà nước được tư nhân hóa. Từ năm 1996, lạm phát thấp, tỷ giá hối đoái ổn định. Mức tăng trưởng kinh tế hàng năm của Mozambique đạt 10% từ năm 1997 đến năm 1999. Tuy vậy đất nước này còn phải phụ thuộc vào sự trợ giúp nước ngoài để cân bằng ngân sách và bù vào sự mất cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu
Ngoài ra việc xuất khẩu điện (có đập thủy điện nổi tiếng Cahora Bassa), dịch vụ cảng, đường giao thông quá cảnh cho các nước láng giềng là nguồn thu ngoại tệ lớn cho nền kinh tế Mozambique.
Hiện nay Mozambique đạt nhiều thành công trong quá trình cải cách kinh tế, sử dụng hiệu quả các nguồn tài trợ của quốc tế, duy trì mức tăng trưởng liên tục từ 7% đến 8%/năm. Các chỉ số kinh tế: GDP: 5,6 tỷ đô la Mỹ (2005), đạt mức tăng trưởng 7,2%. Cũng trong năm 2005, xuất khẩu đạt 1,69 tỷ đô la Mỹ, nhập khẩu đạt 2,04 tỷ đô la Mỹ.
Năm 2007, tổng sản phẩm quốc nội của Mozambique là 6,96 tỷ đô la Mỹ, đạt mức tăng trưởng 7,5%. Như vậy, GDP bình quân đầu người của Mozambique là gần 300 đô la Mỹ/người/năm.
Là một nước nông nghiệp, nông nghiệp thu hút khoảng 81% lực lượng lao động và đóng góp vào khoảng 23,1% GDP của Mozambique. Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu của nước này là: sợi bông, mía, chè, lúa miến, cùi dừa, lạc, hạt điều, hoa quả nhiệt đới, khoai tây, bò. Trước đây nước này xuất khẩu hạt điều đạt 29.000 tấn/năm đứng thứ ba châu Phi. Sản xuất nông nghiệp chưa đáp ứng được như cầu trong nước, do vậy hàng năm, Mozambique phải nhập từ 20-30 vạn tấn gạo. Đây là một cơ hội để gạo của Việt Nam thâm nhập thị trường này.
Công nghiệp chỉ thu hút 6% lao động nhưng đóng góp vào 30,2% GDP của Mozambique. Mozambique xuất khẩu lượng điện tương đối lớn nhờ có đập thủy điện nổi tiếng Cahora Basa.
Dịch vụ của Mozambique khá phát triển, thu hút 13% lực lượng lao động và đóng góp 46,7% GDP (2007). Các dịch vụ cảng, đường giao thông quá cảnh sang các nước láng giềng là nguồn thu ngoại tệ lớn cho nền kinh tế nước này.
Về ngoại thương, năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của Mozambique ra thế giới đạt 2,73 tỷ đô la Mỹ. Các mặt hàng xuất khẩu chính của nước này là nhôm, tôm, sợi bông, đường, gỗ xây dựng, cam quýt, điện. Các nước mà Mozambique xuất hàng sang chủ yếu là Hà Lan, Nam Phi, Malawi.
Năm 2007, Mozambique nhập khẩu 3,03 tỷ đô la Mỹ hàng hoá như: máy móc thiết bị, sản phẩm hoá học, sản phẩm kim loại, lương thực, hàng dệt may...[14]
Năm 2010, tổng sản phẩm quốc nội của Mozambique là 10,21 tỷ đô la Mỹ, đạt mức tăng trưởng 8,3%. Như vậy, GDP bình quân đầu người của Mozambique là gần 500 đô la Mỹ/người/năm.
Về ngoại thương, năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của Mozambique ra thế giới đạt 2,51 tỷ đô la Mỹ. Các mặt hàng xuất khẩu chính của nước này là nhôm, tôm, sợi bông, đường, gỗ xây dựng, cam quýt, điện. Các nước mà Mozambique xuất hàng sang chủ yếu là Hà Lan, Nam Phi, Malawi.
Năm 2010, Mozambique nhập khẩu 3,53 tỷ đô la Mỹ hàng hoá như: máy móc thiết bị, sản phẩm hoá học, sản phẩm kim loại, lương thực, hàng dệt may... Đối tác chính là Nam Phi, Hà Lan, Ấn Độ, Trung Quốc.
Nhân khẩu
Dân số Mozambique hiện khoảng 24.905.585 người. Với thành phần dân tộc đa dạng: người bản xứ gốc Phi chiếm 99.66% (bao gồm người Makhuwa, Tsonga, Lomwe, Sena, và các dân tộc khác), người châu Âu 0.06%, lai 0.2%, người Ấn Độ 0.08%.
Đô thị
| Hạng | Tỉnh | Dân số | Hạng | Tỉnh | Dân số | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Maputo | Maputo | 1,080,277 | 11 | Gurúè | Zambézia | 210,000 | ||
| 2 | Matola | Maputo | 1,032,197 | 12 | Pemba | Cabo Delgado | 201,846 | ||
| 3 | Nampula | Nampula | 663,212 | 13 | Xai-Xai | Gaza | 132,884 | ||
| 4 | Beira | Sofala | 592,090 | 14 | Maxixe | Inhambane | 123,868 | ||
| 5 | Chimoio | Manica | 363,336 | 15 | Angoche | Nampula | 89,998 | ||
| 6 | Tete | Tete | 307,338 | 16 | Inhambane | Inhambane | 82,119 | ||
| 7 | Quelimane | Zambézia | 246,915 | 17 | Cuamba | Niassa | 79,013 | ||
| 8 | Lichinga | Niassa | 242,204 | 18 | Montepuez | Cabo Delgado | 76,139 | ||
| 9 | Mocuba | Zambézia | 240,000 | 19 | Dondo | Sofala | 70,817 | ||
| 10 | Nacala | Nampula | 225,034 | 20 | Moçambique | Nampula | 65,712 | ||
Tôn giáo
Tôn giáo tại Mozambique (2007)
Điều tra dân số năm 2007 cho thấy rằng các Kitô hữu chiếm 56,1% dân số và người Hồi giáo chiếm 17,9% dân số. Có 7,3% là các tín ngưỡng khác, chủ yếu là vạn vật hữu linh, và 18,7% không có niềm tin tôn giáo.[16]
Giáo hội Công giáo Rôma Mozambique đã thành lập mười hai giáo phận (Beira, Chimoio, Gurué, Inhambane, Lichinga, Maputo, Nacala, Nampula, Pemba, Quelimane, Tete, và Xai-Xai, 3 tổng giáo phận là Beira, Maputo và Nampula).
Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô đã thiết lập một sự hiện diện ngày càng tăng ở Mozambique. Nó đã bắt đầu gửi các nhà truyền giáo đầu tiên đến Mozambique vào năm 1999, và, tháng 12 năm 2011, đã có hơn 5600 thành viên.[17]
Hồi giáo là tôn giáo của khoảng 4 triệu người Mozambique, hay khoảng 17,9% tổng dân số. Phần lớn là người Hồi giáo Sunni, mặc dù một số ít là người Hồi giáo Shia cũng đã được đăng ký. Những người Hồi giáo bao gồm chủ yếu là người Mozambique bản địa, người gốc Nam Á (Ấn Độ và Pakistan), và một số lượng rất nhỏ người gốc Bắc Phi và Trung Đông.[18]
Ngôn ngữ
Tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính thức và phổ biến nhất tại Mozambique. 50,3% dân số sử dụng tiếng Bồ Đào Nha.[19] Ngoài ra, khoảng 50% người Maputo nói tiếng Bồ Đào Nha như ngôn ngữ thứ nhất.[20]
Giáo dục
Nền giáo dục của Mozambique còn gặp nhiều khó khăn do tình hình đất nước bất ổn; đói nghèo; tình trạng thiếu trường lớp, giáo viên... Đầu thập kỉ 1990, khoảng 67% dân số vẫn còn mù chữ. Mozambique có một trường Đại học chính là Eduardo Mondlane ở thủ đô Maputo.
Văn hóa
Âm nhạc
Ghi chú
- ↑ Bao gồm Người Makua, Người Tsonga, Người Lomwe, Người Sena, và các nhóm dân tộc châu Phi khác.
- ↑ Bao gồm người gốc Á
- ↑ Bao gồm Do Thái giáo, Ấn Độ giáo, và Bahá'í giáo.
- ↑ /ˌmoʊzæmˈbiːk/ ⓘThể loại:Trang có phát âm được ghi âm; tiếng Bồ Đào Nha: MoçambiqueThể loại:Bài viết có văn bản tiếng Bồ Đào Nha, phát âm [musɐ̃ˈbikɨ]Thể loại:Trang có IPA tiếng Bồ Đào Nha; tiếng Chichewa: MozambikiThể loại:Bài viết có văn bản tiếng Chichewa; tiếng Tsonga: MuzambhikiThể loại:Bài viết có văn bản tiếng Tsonga; tiếng Swahili: MsumbijiThể loại:Bài viết có văn bản tiếng Swahili (macrolanguage)
- ↑ República de MoçambiqueThể loại:Bài viết có văn bản tiếng Bồ Đào Nha, phát âm [ʁɛˈpuβlikɐ ðɨ musɐ̃ˈbikɨ]Thể loại:Trang có IPA tiếng Bồ Đào Nha
Tham khảo
- ↑ "Censo 2017 Brochura dos Resultados Definitivos do IV RGPH - Nacional". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2019.
- ↑ "Hồ sơ tôn giáo quốc gia". Hiệp hội Lưu trữ Dữ liệu Tôn giáo. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2023.
- ↑ Neto, Octávio Amorim; Lobo, Marina Costa (2010). "Between Constitutional Diffusion and Local Politics: Semi-Presidentialism in Portuguese-Speaking Countries". SSRN 1644026.
- ↑ Shugart, Matthew Søberg (tháng 9 năm 2005). "Semi-Presidential Systems: Dual Executive and Mixed Authority Patterns" (PDF). Graduate School of International Relations and Pacific Studies. United States: University of California San Diego. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2016.
- ↑ Shugart, Matthew Søberg (tháng 12 năm 2005). "Semi-Presidential Systems: Dual Executive And Mixed Authority Patterns". French Politics. 3 (3): 323–351. doi:10.1057/palgrave.fp.8200087. S2CID 73642272.
Of the contemporary cases, only four provide the assembly majority an unrestricted right to vote no confidence, and of these, only two allow the president unrestricted authority to appoint the prime minister. These two, Mozambique and Namibia, as well as the Weimar Republic, thus resemble most closely the structure of authority depicted in the right panel of Figure 3, whereby the dual accountability of the cabinet to both the president and the assembly is maximized.
- ↑ "Mozambique Population (2024) - Worldometer". Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2024.
- 1 2 3 4 "World Economic Outlook Database, October 2023 Edition. (Mozambique)". IMF.org. Quỹ Tiền tệ Quốc tế. ngày 10 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2023.
- ↑ "Hệ số Gini". Ngân hàng Thế giới. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2022.
- ↑ "Human Development Report 2025" (PDF) (bằng tiếng Anh). Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc. ngày 6 tháng 5 năm 2025. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2025.Thể loại:Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- ↑ "Ilha de Mozambique Web - History". www.ilhademo.net. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2026.
- ↑ M. D. D. Newitt (1972). "The Early History of the Sultanate of Angoche". The Journal of African History. 13 (3). Cambridge University Press: 398. doi:10.1017/S0021853700011713. JSTOR 180586.
- ↑ "Mozambique decriminalises gay and lesbian relationships". BBC News. ngày 1 tháng 7 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2019.
- ↑ "Mozambique's enduring discrimination leaves gay men untreated for HIV". The Guardian. ngày 29 tháng 3 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2019.
- ↑ http://www.ttnn.com.vn/NewsAttachment.ashx?id=3035&type=doc%5B%5D
- ↑ "Mozambique". citypopulation.de. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "CIA Site Redirect — Central Intelligence Agency". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2015.
- ↑ "LDS Statistics and Church Facts Total Church Membership". www.mormonnewsroom.org. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2015.
- ↑ "Religion in Mozambique". Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2015.
- ↑ "Quadro 24. População de 5 anos e mais por condição de conhecimento da língua portuguesa e sexo, segundo área de residência e idade" Lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2018 tại Wayback MachineThể loại:Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback, Instituto Nacional de Estatística Lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 1998 tại Wayback MachineThể loại:Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback, Maputo Moçambique, 2007
- ↑ Reite, Torun (tháng 2 năm 2020). "Language and spatiality in urban Mozambique: Ex-colonial language spread "from below"". www.researchgate.net/. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2024.
Liên kết ngoài
Chính phủ:
- Republic of Mozambique Cổng thông tin điện tử chính thức
Tổng quan:
- Social Atlas từ Ngân hàng Thế giới
- Country Profile từ BBC News
- Mozambique. The World Factbook. Cơ quan Tình báo Trung ương.
- Mozambique từ UCB Libraries GovPubs
Wikimedia Atlas của Mozambique- Key Development Forecasts for Mozambique từ International Futures
- Mozambique Population Worldometer
Y tế:
- The State of the World's Midwifery – Mozambique Country Profile
